Hàn Quốc: Ngân sách hỗ trợ việc làm tại các địa phương khủng hoảng ngành đóng tàu chỉ chiếm 5,8%

30/10/2026 15:03Dịch sang:trangamy319@gmail.com
facebook twitter link Font big Font small print
Nhà máy đóng tàu Ulsan của HD Hyundai Heavy Industries. /HD Hyundai

Tại 6 địa phương từng được chỉ định là Khu vực đặc biệt ứng phó khủng hoảng công nghiệp do cuộc khủng hoảng của ngành đóng tàu, tỷ trọng ngân sách hỗ trợ dành cho việc làm chỉ đạt trung bình 5,8%. Theo phân tích, các khoản hỗ trợ chủ yếu tập trung vào tạo việc làm công và trợ cấp sinh kế cho người thất nghiệp, trong khi các chương trình đào tạo nhân lực phục vụ ngành công nghiệp thay thế, ngành công nghiệp mới và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp vẫn còn thiếu.

Ấn bản mùa thu của tạp chí chuyên ngành hàng quý Công nghiệp địa phương và Việc làm, do Viện Thông tin Việc làm Hàn Quốc và Hiệp hội Việc làm Khu vực Hàn Quốc phát hành ngày 30, đã đề cập đến những hạn chế trong chính sách ứng phó khủng hoảng công nghiệp cũng như các nhiệm vụ cần cải thiện đối với chính sách việc làm tại địa phương.

Tỷ trọng ngân sách hỗ trợ việc làm tại 6 địa phương chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng ngành đóng tàu có sự chênh lệch đáng kể, từ mức thấp nhất 0,1% đến cao nhất 22,3%. Các chương trình hỗ trợ chủ yếu gồm việc làm công như chương trình việc làm hy vọng, lao động công ích, trợ cấp duy trì việc làm và trợ cấp khuyến khích tuyển dụng thanh niên. Trong khi đó, ngân sách dành cho đào tạo nhân lực chuyên môn phục vụ các ngành công nghiệp thay thế và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp còn hạn chế; thậm chí, tại nhiều địa phương, những chương trình này hoàn toàn không được triển khai.

Chính sách chỉ định Khu vực đặc biệt ứng phó khủng hoảng công nghiệp đã góp phần ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp phá sản dây chuyền và thất nghiệp trên diện rộng. Tỷ lệ việc làm trung bình tại các địa phương chịu khủng hoảng ngành đóng tàu từng giảm xuống còn 59,5% trong nửa cuối năm 2017, ngay trước thời điểm được chỉ định. Tuy nhiên, sau đó, tỷ lệ này đã phục hồi và đến năm 2023 còn vượt mức trung bình toàn quốc.

Cơ cấu vận hành riêng biệt giữa chính sách công nghiệp và chính sách việc làm cũng được chỉ ra là một hạn chế. Bộ Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng tập trung vào khắc phục khủng hoảng công nghiệp và duy trì hoạt động của doanh nghiệp, trong khi Bộ Việc làm và Lao động chủ yếu hỗ trợ ổn định đời sống và tái tuyển dụng cho người mất việc. Theo phân tích, cách tiếp cận này khiến việc xây dựng chiến lược công nghiệp gắn liền với đào tạo nhân lực chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Ông Kim Ji-soo, nghiên cứu viên Viện Kinh tế Công nghiệp Hàn Quốc, nhận định: “Khi khủng hoảng công nghiệp xảy ra, việc hỗ trợ người thất nghiệp và doanh nghiệp duy trì việc làm có hiệu quả trong ứng phó trước mắt, nhưng lại có những hạn chế trong việc thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu công nghiệp”.

Khủng hoảng tại các ngành công nghiệp chủ lực cũng đang làm thu hẹp cơ hội gia nhập thị trường lao động đối với nhân lực mới. Tại 4 doanh nghiệp thép lớn ở Pohang, số lượng tuyển dụng mới đã giảm 96%, từ 655 người năm 2024 xuống còn 26 người năm 2025. Số lao động thường xuyên tại Khu công nghiệp thép Pohang cũng giảm 2.579 người so với năm 2014, xuống còn 13.363 người vào tháng 7 năm nay.

Trước thực trạng này, báo cáo đề xuất liên kết chính sách Khu vực đặc biệt ứng phó khủng hoảng công nghiệp với các chương trình hỗ trợ khu vực có nguy cơ khủng hoảng việc làm, nhằm dự báo và đào tạo trước nguồn nhân lực cần thiết cho quá trình chuyển đổi công nghiệp. Chẳng hạn, tại các địa phương có ngành đóng tàu là chủ lực, người lao động có thể được đào tạo để chuyển sang lĩnh vực tàu thân thiện với môi trường và điện gió ngoài khơi. Trong khi đó, tại các địa phương tập trung ngành ô tô, các lĩnh vực được định hướng gồm ô tô thế hệ tương lai, pin và xe tự hành. Theo đó, các trường đại học địa phương, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp sẽ cùng xây dựng chương trình đào tạo và kế hoạch tuyển dụng.

Việc đánh giá hiệu quả chính sách cũng cần được cải thiện. Thay vì chỉ căn cứ vào tỷ lệ việc làm trong ngắn hạn hoặc tỷ lệ giải ngân các chương trình hỗ trợ, các tiêu chí đánh giá cần tính đến mức tăng việc làm trong những ngành công nghiệp mới, tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp thành công và mức độ đa dạng hóa công nghiệp. Theo đề xuất, bên cạnh việc xem xét có bao nhiêu việc làm hiện hữu được duy trì, cần đánh giá cả khả năng tạo nền tảng cho sự hình thành những ngành công nghiệp và việc làm mới.

Một nhiệm vụ khác là gắn kết hoạt động đào tạo nhân lực với việc ổn định cuộc sống lâu dài tại địa phương. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông chuyên ngành tìm được việc làm tại chính tỉnh, thành phố nơi trường tọa lạc đã giảm 6,5 điểm phần trăm, từ 66,8% năm 2021 xuống còn 60,3% năm 2025. Năm ngoái, tại Gyeongbuk, Jeonnam và Ulsan, cứ 10 người có việc làm thì khoảng 6 người tìm được công việc đầu tiên ở một tỉnh, thành phố khác.

Báo cáo đề xuất đưa nhu cầu nhân lực của các ngành công nghiệp địa phương vào chương trình đào tạo, đồng thời tạo cơ hội phát triển năng lực và học tập liên tục cho người lao động sau khi tuyển dụng. Bên cạnh đó, cần cải thiện điều kiện sinh sống lâu dài tại địa phương, bao gồm nhà ở và giao thông.

Bà Ryu Ji-eun, nghiên cứu viên Viện Năng lực Nghề nghiệp Hàn Quốc, nhấn mạnh: “Để khuyến khích nhân lực được đào tạo ở lại địa phương, cần hỗ trợ để họ có thể tiếp tục phát triển sự nghiệp và con đường thăng tiến ngay tại khu vực đó”.


Theo Kim Nam-hyeong