Công nghệ chẩn đoán sớm sa sút trí tuệ phát triển, nhưng hệ thống chăm sóc vẫn ‘giậm chân tại chỗ’

24/06/2026 11:37Dịch sang:trangamy319@gmail.com
facebook twitter link Font big Font small print

Mặc dù công nghệ chẩn đoán sớm bệnh sa sút trí tuệ (dementia) đang có nhiều bước tiến, song giới chuyên môn cho rằng hệ thống chăm sóc bệnh nhân sau điều trị vẫn chưa theo kịp thực tế. Khi Hàn Quốc bước vào thời kỳ có hơn 1 triệu bệnh nhân sa sút trí tuệ, gánh nặng đối với gia đình, sự chênh lệch dịch vụ chăm sóc giữa các địa phương và tình trạng thiếu hạ tầng chăm sóc dài hạn vẫn chưa được giải quyết. Nhiều ý kiến cho rằng cần sớm xây dựng một hệ thống ứng phó tổng thể, bao quát từ phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị đến chăm sóc và chăm sóc dài hạn.

Theo Chính phủ Hàn Quốc ngày 23, số người mắc sa sút trí tuệ dự kiến sẽ tăng từ 970.000 người vào năm 2025 lên 1,01 triệu người trong năm nay. Trong khi đó, số bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (Mild Cognitive Impairment - MCI), được xem là giai đoạn tiền sa sút trí tuệ, được dự báo sẽ tăng từ 2,98 triệu người năm 2025 lên 4,08 triệu người vào năm 2033.

Trước thực trạng này, Chính phủ gần đây đã phát triển hệ thống phân loại mới gồm 6 giai đoạn để chẩn đoán sớm và dự báo tiên lượng bệnh, thay cho hệ thống 3 giai đoạn trước đây. Hệ thống mới được kỳ vọng sẽ giúp sàng lọc sớm những người có nguy cơ cao mắc bệnh, từ đó xây dựng các chiến lược phòng ngừa và quản lý phù hợp. Trước đó, Cơ quan Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hàn Quốc (KDCA) cũng đã xác nhận khả năng sử dụng các dấu ấn sinh học trong máu (blood biomarkers) để chẩn đoán từng loại sa sút trí tuệ và dự báo tiến triển bệnh ở những bệnh nhân mắc sa sút trí tuệ khởi phát sớm.

Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ công nghệ chẩn đoán ngày càng tiến bộ nhưng điều kiện chăm sóc người bệnh gần như không có nhiều thay đổi.

Theo "Khảo sát dịch tễ và thực trạng sa sút trí tuệ năm 2023" của Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc, có tới 45,8% gia đình có người mắc sa sút trí tuệ sống tại cộng đồng cho biết họ đang chịu áp lực lớn trong việc chăm sóc người thân. Ngay cả những thành viên không sống cùng bệnh nhân cũng phải dành trung bình 18 giờ mỗi tuần để chăm sóc, trong đó khó khăn lớn nhất là gánh nặng tài chính.

Chi phí quản lý và chăm sóc cho mỗi bệnh nhân cũng ở mức rất cao. Trung bình mỗi bệnh nhân sống tại cộng đồng tiêu tốn khoảng 17,339 triệu won mỗi năm, trong khi bệnh nhân điều trị tại bệnh viện hoặc cơ sở dưỡng lão cần tới khoảng 31,382 triệu won mỗi năm.

Trong bối cảnh số lượng bệnh nhân tiếp tục gia tăng, áp lực đối với hệ thống chăm sóc dự báo sẽ còn lớn hơn. Đặc biệt, những người bị suy giảm nhận thức nhẹ có nguy cơ chuyển sang sa sút trí tuệ cao hơn người bình thường, với khoảng 10-15% trường hợp tiến triển thành bệnh mỗi năm, chủ yếu là bệnh Alzheimer.

Khoảng cách về dịch vụ chăm sóc giữa các địa phương cũng là một bài toán nan giải.

Theo nghiên cứu "Mất cân đối cơ cấu nhu cầu chăm sóc dài hạn giữa các khu vực trong xã hội siêu già hóa", do Giáo sư Yoon Hyun-woo (Đại học Kongju) và các cộng sự công bố hồi tháng 4, khu vực nông thôn có tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ và tốc độ gia tăng người được công nhận thuộc nhóm chăm sóc dài hạn cấp độ 5 cao nhất, nhưng lại thiếu nhân lực và cơ sở hạ tầng chăm sóc.

Trong khi đó, tại các đô thị lớn, số lượng tuyệt đối bệnh nhân sa sút trí tuệ và người được hưởng chế độ chăm sóc dài hạn tập trung quá đông, khiến nhu cầu về cơ sở và nhân lực gần như đạt đến ngưỡng bão hòa.

Nghiên cứu nhận định rằng hệ thống chăm sóc dài hạn hiện nay với tiêu chuẩn áp dụng thống nhất trên toàn quốc sẽ khó có thể đáp ứng sự khác biệt về nhu cầu giữa các vùng. Theo dự báo, dân số từ 80 tuổi trở lên sẽ tăng gần gấp ba lần, từ 1,89 triệu người năm 2020 lên 5,33 triệu người vào năm 2040. Riêng tại khu vực nông thôn, đến năm 2040, người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm tới 51,7% tổng dân số.

Một chuyên gia y tế nhận định: "Dù công nghệ chẩn đoán sớm có phát triển đến đâu thì điều quan trọng nhất vẫn là bệnh nhân có thể sống an toàn trong cộng đồng được bao lâu và gánh nặng chăm sóc của gia đình có được giảm bớt hay không. Đã đến lúc cần một chiến lược cấp quốc gia kết nối xuyên suốt từ điều trị đến chăm sóc và chăm sóc dài hạn".


Theo Lee Se-mi