Số lượng phụ nữ kết hôn tham gia thị trường lao động tăng cao

20/11/2025 14:55Dịch sang:trangamy319@gmail.com
facebook twitter link Font big Font small print
./Yonhapnews

Tỷ lệ có việc làm của phụ nữ đang nuôi con, còn gọi là “mẹ đi làm” (working mom), đã đạt mức cao kỷ lục. Khi số lượng phụ nữ đã kết hôn đi làm tăng lên, số phụ nữ gián đoạn sự nghiệp đã giảm.

Theo “Báo cáo tình hình việc làm của phụ nữ đã kết hôn theo khu vực trong nửa đầu năm 2025” được Cơ quan Dữ liệu Quốc gia công bố ngày 20, tính đến tháng 4 năm nay, số phụ nữ đã kết hôn trong độ tuổi 15–54 là 7.403.000 người, giảm 251.000 người so với một năm trước. Tỷ lệ có việc làm của nhóm này đạt 67,3%, tăng 1,3 điểm phần trăm (p) so với năm ngoái, mức cao nhất kể từ khi thống kê liên quan được thực hiện từ năm 2016.

Tỷ lệ có việc làm của phụ nữ đã kết hôn sống cùng con dưới 18 tuổi (4.150.000 người) cũng tăng 1,9 p lên 64,3%, đây cũng là mức cao nhất kể từ khi có số liệu.

Tuy nhiên, tỷ lệ có việc làm có xu hướng thấp hơn khi tuổi con nhỏ hơn và số lượng con nhiều hơn. Trong số phụ nữ đã kết hôn sống cùng con dưới 18 tuổi, tỷ lệ có việc làm là 64,6% nếu có 1–2 con, còn 60,6% nếu có 3 con trở lên. Theo độ tuổi con, tỷ lệ này là 57,7% đối với trẻ 6 tuổi trở xuống, 66,1% với trẻ 7–12 tuổi, và 70,4% với trẻ 13–17 tuổi.

Khi số phụ nữ đã kết hôn đi làm tăng, số phụ nữ gián đoạn sự nghiệp giảm xuống. Phụ nữ gián đoạn sự nghiệp là những người đã thôi việc vì kết hôn, mang thai và sinh con, nuôi con, giáo dục con, hoặc chăm sóc gia đình, dẫn đến tình trạng thất nghiệp.

Trong số phụ nữ đã kết hôn 15–54 tuổi, số phụ nữ gián đoạn sự nghiệp là 1.105.000 người, giảm 110.000 người so với năm trước. Tỷ lệ phụ nữ gián đoạn sự nghiệp cũng giảm 1,0 p xuống 14,9%. Trong số phụ nữ đã kết hôn sống cùng con dưới 18 tuổi, số phụ nữ gián đoạn sự nghiệp là 885.000 người, giảm 85.000 người, tỷ lệ giảm 1,4 p xuống còn 21,3%.

Xét theo lý do gián đoạn sự nghiệp, chăm sóc con chiếm 44,3%, đứng thứ hai là kết hôn 24,2%, tiếp theo là mang thai và sinh con 22,1%. Thời gian gián đoạn sự nghiệp phân theo khoảng: trên 10 năm 42,1%, từ 5–10 năm 22,3%, dưới 1 năm 13,2%, theo thứ tự này.

Lee Ji-hoon